Khi bắt đầu thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, số tiêu chí bình quân/xã chỉ đạt 6 tiêu chí, giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đất nông nghiệp chưa cao (năm 2000 chỉ đạt 31 triệu đồng/ha/năm; năm 2005 đạt 63 triệu đồng/ha/năm; năm 2008 đạt 117,5 triệu đồng/ha/năm). Năng suất lao động năm 2008 chỉ đạt 29,1 triệu đồng/người. Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản đạt 7.365,2 tỷ đồng. Khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị khá lớn (thu nhập bình quân khu vực nông thôn năm 2008 là 15,73 triệu đồng/người/năm chỉ bằng 55,5% thu nhập thành thị là 28,32 triệu đồng/người/năm).
Thực hiện Kết luận số 32-KL/BCT của Bộ Chính trị ngày 20 tháng 11 năm 2008, trong đó có chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới – nhằm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. Ban Bí thư đã chỉ đạo triển khai thực hiện đề án Chương trình thí điểm mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trung ương chọn xã Tân Thông Hội (Củ Chi) là 1 trong 11 xã cả nước thực hiện thí điểm chương trình. Ngoài xã điểm Tân Thông Hội do Trung ương trực tiếp chỉ đạo, Thành phố chọn thêm 05 xã thuộc 5 huyện, gồm: xã Thái Mỹ (Củ Chi), Xuân Thới Thượng (Hóc Môn), Tân Nhựt (Bình Chánh), Nhơn Đức (Nhà Bè) và Lý Nhơn (Cần Giờ) do Thành phố trực tiếp chỉ đạo. Giai đoạn 2010 – 2020, 5 huyện và 56 xã của Thành phố đã cùng các tỉnh, thành của cả nước thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới với mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Sau 10 năm thực hiện xây dựng nông thôn mới, Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được các kết quả nổi bật sau đây:
1.Khoảng cách chênh lệch giữa thu nhập nông thôn và thành thị dần thu hẹp: Năm 2019 thu nhập của người dân vùng nông thôn 63,096 triệu đồng/người/năm, tăng 301,12% so với năm 2008 – năm đầu tiên bắt đầu thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (15,73 triệu đồng/người/năm). Khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn ngày càng thu hẹp qua các năm: Năm 2008, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn Thành phố bằng 55,5% so với thu nhập khu vực thành thị; đến năm 2010 là 66,5%, năm 2016 là 71,9%, năm 2019 là 72,57%.
2.Thành phố không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo Quốc gia, chuẩn nghèo Thành phố được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo được kéo giảm: hộ nghèo tại 5 huyện năm 2010 còn 42.045hộ/291.686 hộ, chiếm tỷ lệ 14,41%. Tính đến đầu năm 2019, số hộ nghèo có thu nhập bình quân từ <21 triệu đồng/người/năm trở xuống là 1.777 hộ, chiếm tỷ lệ 0,41% trong tổng hộ dân 5 huyện.
3.Năng suất lao động khu vực nông thôn được cải thiện: Năng suất lao động tính theo giá so sánh năm 2008 đạt 29,4 triệu đồng/người, năm 2014 đạt 64,7 triệu đồng/người, năm 2018 đạt 90 triệu đồng/người. Tốc độ tăng năng suất lao động tính theo so sánh năm 2018 so với năm 2008 đạt 206,1% (Năng suất lao động tính theo giá thực tế năm 2008 đạt 29,4 triệu đồng/người, năm 2014 đạt 95,3 triệu đồng/người, năm 2018 đạt 136,5 triệu đồng/người, năm 2019 ước đạt 139,6 triệu đồng/người. Tốc độ tăng năng suất lao động tính theo giá thực tế năm 2019 so với năm 2008 đạt 118,5%).
4.Diện tích đất sản xuất nông nghiệp, số hộ nông lâm ngư nghiệp giảm: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân giảm khoảng 900ha/năm, số hộ nông lâm ngư nghiệp bình quân giảm 6,38%/năm. Tuy nhiên, nhờ ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, giống cây con chất lượng cao, chuyển dịch sang các loại cây trồng vật nuôi có giá trị, hiệu quả kinh tế cao, chính sách hỗ trợ lãi vay đầu tư sản xuất nông nghiệp góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp thành phố, giai đoạn 2016 – 2019: GRDP bình quân tăng 5,9%/năm, giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp thực tế năm 2019 ước đạt 23.400 tỷ đồng, tăng bình quân 6,01%/năm (Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần X tăng 5,8% – 6%). Giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha đất canh tác/năm tăng đều qua các năm, từ 158,5 triệu đồng/ha năm 2010, đạt 502 triệu đồng/ha/ năm 2018 và đạt 550 triệu đồng/ha/năm 2019 (cao nhất cả nước, gấp hơn 05 lần bình quân cả nước, theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
5.Phong trào “Thành phố Chung sức xây dựng nông thôn mới” được cả hệ thống chính trị, cộng đồng hưởng ứng thực hiện với nhiều hoạt động thiết thực: đã huy động được 26.043 hộ dân hiến 2.972.304 m2 đất để xây dựng mở rộng đường giao thông nông thôn, ước giá trị trên 2.243 tỷ đồng; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố, Đảng ủy Khối Dân – Chính – Đảng, cùng các đơn vị được Ban Thường vụ Thành ủy phân công chung sức và các đơn vị ngoài phân công, là các sở ngành, hội đoàn thể, các tổng công ty, doanh nghiệp, hộ dân và cá nhân thuộc 24 quận huyện đã cùng chung tay, chung sức hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, xây dựng đường giao thông nông thôn,… với tổng kinh phí hỗ trợ là 557 tỷ 924 triệu đồng, giúp diện mạo nông thôn ngày càng khang trang hơn, đời sống người dân ngày càng tốt hơn.
6.Kết nối tiêu thụ nông sản; kết nối liên kết sản xuất giữa “Hộ nông dân – Hợp tác xã – Doanh nghiệp” được tập trung thực hiện: bình quân có hơn 167 con heo/ngày, 6.770 tấn rau củ quả/năm, 547 tấn thủy sản/năm được sản xuất theo chuỗi liên kết “Hộ nông dân – Hợp tác xã – Doanh nghiệp”; 540 phiên chợ nông sản an toàn được tổ chức, với 9.417 đơn vị tham gia, kết nối tiêu thụ nông sản qua 200 hợp đồng, với giá trị 22,5 tỷ đồng/tháng.
7.Chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đô thị được đông đảo người dân tham gia thực hiện có hiệu quả: Lũy tiến từ năm 2010 đến nay: 05 huyện đã phê duyệt 25.739 lượt tổ chức, hộ dân, cá nhân vay vốn có hỗ trợ lãi vay để phát triển sản xuất nông nghiệp, tổng vốn đầu tư 12.548,562 tỷ đồng, tổng vốn vay 7.759,321 tỷ đồng, bình quân vốn đầu tư/phương án năm 2010 là 321 triệu đồng/phương án đã nâng lên 1,51 tỷ đồng/phương án năm 2019. Tổng kinh phí giải ngân hỗ trợ lãi vay từ ngân sách đối với các phương án được duyệt tại 05 huyện là 604,282 tỷ đồng, cho thấy với 01 đồng vốn ngân sách hỗ trợ lãi vay, sẽ huy động được 21 đồng vốn xã hội, trong đó huy động từ tổ chức tín dụng là 13 đồng, huy động trong dân là 8 đồng. Qua việc triển khai thực hiện chính sách đã góp phần giải quyết, tạo việc làm làm cho 60.311 lao động. Đồng thời xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp đô thị có hiệu quả kinh tế cao, như: rau (doanh thu bình quân đạt 0,8 -1 tỷ đồng/ha/năm), hoa lan (doanh thu bình quân đạt 2 tỷ đồng/ha/năm), bò sữa (quy mô 20 con: doanh thu bình quân đạt 0,8 tỷ đồng/năm), cá cảnh (doanh thu bình quân đạt 10 – 15 tỷ đồng/ha/năm, nuôi lươn trong hồ (diện tích 6m2/hồ, doanh thu đạt 63,3 tỷ đồng/0,5ha/năm);…
8.06 sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Thành phố được tập trung phát triển: Trong đó, có một số sản phẩm có tốc độ tăng cao, trong 9 tháng đầu năm 2019: Rau: sản lượng đạt 407.520 tấn, tăng 13,9% so cùng kỳ; Hoa, cây kiểng: đạt 2.335 ha, tăng 8,5% so cùng kỳ; Thủy sản: đạt 45.673 tấn, tăng 6,6% so cùng kỳ; Cá cảnh: đạt 158 triệu con, tăng 15,3% so cùng kỳ.
9.Chính sách an sinh xã hội được triển khai hiệu quả: 39.201 lượt hộ nghèo đã được vay vốn sản xuất từ Quỹ Xóa đói giảm nghèo; 33.514 lượt lao động thuộc đối tượng khó khăn được giải quyết việc làm; hỗ trợ 922.977 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, hộ cận nghèo; 338.098 lượt học sinh được miễn, giảm học phí.
10.Hạ tầng phục vụ sản xuất và an sinh xã hội được tập trung: 9.188 công trình hạ tầng kỹ thuật, xã hội được đầu tư, đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương phát triển sản xuất, dạy – học, khám chữa bệnh, vui chơi giải trí của người dân nông thôn.
Bên cạnh xây dựng nông thôn mới, việc thực hiện đạt 19 tiêu chí nông thôn mới thì việc cải tạo diện mạo môi trường nông thôn có ý nhĩa hết sức quan trọng trong xây dựng nông thôn mới. Việc xây dựng các tuyến đường kiểu mẫu trong nông thôn mới góp phần nâng cao ý thức người dân trong cải tạo cảnh quan môi trường, thay đổi được thói quen, ý thức của các hộ dân trong việc đảm bảo vệ sinh môi trường, không chỉ làm cho bộ mặt nông thôn thêm khởi sắc mà còn xây dựng nếp sống văn minh, góp phần nâng cao tiêu chí nông thôn mới và đem lại ý nghĩa thiết thực trong Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Hình ảnh các tuyến đường xanh-sạch-đẹp trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh


Tuyến đường nông thôn mới trên địa bàn xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh

Tuyến đường nông thôn mới trên địa bàn xã Đa Phước, huyện Bình Chánh

Tuyến đường xanh-sạch-đẹp trên địa bàn xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi

Tuyến đường xanh-sạch-đẹp trên địa bàn xã Tân An Hội, huyện Củ Chi

Tuyến đường xanh-sạch-đẹp trên địa tại đường đê ấp 1, xã Tân Quý Tây,
huyện Bình Chánh (nguồn: Internet)

Tuyến đường xanh-sạch-đẹp trên địa bàn xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi
(nguồn: Internet)

Mô hình tuyến đường hoa Mười Giờ tại xã Đa Phước, huyện Bình Chánh

Tuyến đường xanh-sạch-đẹp tại xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi

Tuyến đường không rác tại xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh
Hình ảnh các tuyến đường xanh-sạch-đẹp trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn cả nước

Xây dựng tuyến đường nông thôn kiểu mẫu tại tỉnh Quảng Ninh
(nguồn: www.quangninh.gov.vn)

Tuyến đường nông thôn mới kiểu mẫu tại tỉnh Sóc Trăng
(nguồn: www.baosoctrang.org.vn/)

Xây dựng tuyến đường nông thôn mới kiểu mẫu ở xã Long Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nguồn: www. nongthonmoi.soctrang.gov.vn)

Tuyến đường hoa nông thôn mới tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang
(nguồn: www.lambinh.tuyenquang.gov.vn/

Xây dựng các tuyến đường Xanh – Sạch – Đẹp trên địa bàn huyện Bù Đốp,
tỉnh Bình Phước (nguồn: www.tuoitrebudop.org.vn)
Các tuyến đường xanh-sạch-đẹp góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, đời sống tinh thần của người dân được nâng cao, nhiều nét đẹp văn hóa tại địa phương được phát huy. Mong rằng trong thời gian sắp tới sẽ có thật nhiều, thật nhiều tuyến đường xanh-sạch-đẹp được phát triển, nhân rộng trong xây dựng nông thôn mới tại Thành phố Hồ Chí Minh.
]]>– Theo Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05/4/2016, bình quân số tiêu chí đạt trên 01 huyện là 8,6 tiêu chí (tăng 2,2 tiêu chí so với cuối năm 2018 là 6,4 tiêu chí).
– Đối với 03 huyện (Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè) đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới: các huyện đang tập trung triển khai và hoàn thành các chỉ tiêu, yêu cầu tại Đề án nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện giai đoạn 2016 – 2020 đã được Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt và các đề án khác có liên quan nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, hiện đại, không ngừng nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn.
– Đối với 02 huyện (Cần Giờ và Bình Chánh) chưa đạt chuẩn nông thôn mới:
+ Huyện Bình Chánh đạt 8/9 tiêu chí (gồm: 1Quy hoạch, 2Giao thông, 3.Thủy lợi, 4.Điện, 5.Y tế, Văn hóa, Giáo dục, 6.Sản xuất, 7.An ninh trật tự xã hội, 8.Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới);
+ Huyện Cần Giờ đạt 8/9 tiêu chí. Đoàn thẩm tra thành phố đã tiến hành thẩm tra các tiêu chí theo Quyết định số 558/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, huyện đang bổ sung các nội dung theo yêu cầu của các Sở ngành và phấn đấu đạt Chỉ tiêu 5.3 – Tỷ lệ trường Trung học phổ thông đạt chuẩn vào tháng 8 năm 2020.
2. Kết quả thực hiện Chương trình ở giai đoạn nâng cao chất lượng các tiêu chí (ban hành tại Quyết định số 5039/QĐ-UBND ngày 09/11/2018 của UBND TP):
– Bình quân số tiêu chí đạt trên 01 xã là 18,84/19 tiêu chí (tăng 1,64 tiêu chí so với cuối năm 2019 là 17,2 tiêu chí).
+ Nhóm 1 (đạt 19 tiêu chí): 49 xã, tỷ lệ 87,5%, gồm: Củ Chi: 17/20 xã, Hóc Môn: 08/10 xã, Bình Chánh: 12/14 xã, Nhà Bè: 06/6 xã, Cần Giờ: 06/6 xã.
+ Nhóm 2 (đạt 18 tiêu chí): 05 xã, tỷ lệ 8,9% (xã An Phú, Bình Mỹ, Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi; xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn – Lý do: còn chỉ tiêu 19.2. về an ninh trật tự chưa đạt và xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn – lý do: chưa đạt chỉ tiêu 18.3. Đảng bộ xã hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên).
+ Nhóm 3 (đạt 17 tiêu chí): 02 xã, tỷ lệ 3,6%: xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh (xã Vĩnh Lộc A – còn lại chỉ tiêu 17.2 – Còn 02 cơ sở gây ô nhiễm môi trường chuẩn bị xử lý và chỉ tiêu 18.3 – Năm 2018 và năm 2019. Đảng bộ xã không hoàn thành nhiệm vụ; xã Vĩnh Lộc B – còn lại Chỉ tiêu 17.2 – Còn 02 cơ sở gây ô nhiễm môi trường chuẩn bị xử lý và Chỉ tiêu 18.6 – năm 2019 xã không đạt chuẩn tiếp cận pháp luật)
3. Kết quả triển khai thực hiện Phong trào thi đua “Thành phố chung sức xây dựng nông thôn mới”:
Thực hiện phong trào thi đua “Thành phố chung sức xây dựng nông thôn mới”, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố đã có nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các quận – huyện triển khai thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với nội dung thi đua xây dựng nông thôn mới; đối với từng tổ chức chính trị – xã hội đều có tổ chức phát động phong trào thi đua riêng, như: “Tháng thanh niên hành động xây dựng nông thôn mới”, “Thanh niên nông thôn lập nghiệp”; “Trồng cây xanh trên các tuyến đường ở các xã nông thôn mới”; “Nông dân sản xuất – kinh doanh giỏi, xây dựng xã nông thôn mới”; “Hiến đất làm đường, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới và giữ gìn an ninh trật tự”; “Lực lượng vũ trang Thành phố chung sức xây dựng nông thôn mới”… Qua phong trào thi đua “Thành phố chung sức xây dựng nông thôn mới” nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về
vai trò của bản thân đối với công cuộc xây dựng nông thôn mới đã có chuyển biến rõ nét.
Tổng kinh phí đã thỏa thuận ký kết hỗ trợ của 48 đơn vị chung sức nông thôn mới (theo Thông báo số 316-TB/TU ngày 07 tháng 12 năm 2016) với 5 huyện là: 81,215 tỷ đồng để thực hiện hỗ trợ an sinh xã hội, sản xuất, hoạt động văn hóa, hỗ trợ vật tư làm đường giao thông đối với các tuyến đường có quy mô nhỏ hơn 500m. Đến nay, các huyện đã tiếp nhận kinh phí hỗ trợ là 41,151 tỷ đồng. Trong giai đoạn này tổng kinh phí các đơn vị ngoài các đơn vị ký kết đã hỗ trợ hơn 61,715 tỷ đồng.
Lũy tiến kết quả thực hiện Phong trào chung sức nông thôn mới từ khi bắt đầu chương trình nay (bao gồm các đơn vị hỗ trợ ký kết và ngoài ký kết): hơn 457,528 tỷ đồng (các đơn vị hỗ trợ ký kết chung sức: 139,649 tỷ đồng, các đơn vị ngoài ký kết: 317,879 tỷ đồng).
Qua phong trào tại 5 huyện, từ khi thực hiện Chương trình đến nay đã huy động được 33.848 hộ dân hiến đất, vật kiến trúc làm đường, với diện tích 3.169.978 m2 ước kinh phí hơn 2.319 tỷ 940 triệu đồng. Huy động cộng đồng cùng chung sức xây dựng 2.290 tuyến hẻm, tổng chiều dài 339,1 km với tổng kinh phí 901 tỷ 778 triệu đồng.
Qua phong trào “Thành phố chung sức xây dựng nông thôn mới” xuất hiện nhiều gương điển hình trong hiến đất làm đường, sản xuất giỏi, làm giàu, giảm nghèo bền vững, hỗ trợ xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa, an sinh xã hội, phát triển giao thông nông thôn, thủy lợi nhỏ,… các gương điển hình đã được tổng kết, nhân rộng, góp tạo nên sự thành công của Chương trình.
4. Kết quả huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới:
4.1. Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 là 43.065 tỷ 410 triệu đồng. Trong đó:
– Vốn ngân sách Trung ương: 41 tỷ 00 triệu đồng tỷ lệ 0,10% (vốn Trung ương khen thưởng nông thôn mới thành phố cấp sau giai đoạn 2011 – 2015).
– Vốn ngân sách Thành phố: 6.018 tỷ đồng tỷ lệ 13,97%.
+ Vốn NTM: 5.674 tỷ 300 triệu đồng, tỷ lệ 13,18%.
+ Vốn lồng ghép: 343 tỷ 700 triệu đồng, tỷ lệ 0,8%.
– Vốn huy động từ cộng đồng: 37.006 tỷ 415 triệu đồng tỷ lệ 85,93%.
+ Vốn dân: 1.711 tỷ 953 triệu đồng, tỷ lệ 3,98%.
+ Vốn tín dụng : 34.920 tỷ 619triệu đồng, tỷ lệ 81,09%.
+ Vốn doanh nghiệp: 373 tỷ 843 triệu đồng, tỷ lệ 0,87%.
4.2. Lũy tiến huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 là 79.995 tỷ 850 triệu đồng. Trong đó:
– Vốn ngân sách Trung ương: 61 tỷ 230 triệu đồng tỷ lệ 0,08% (Vốn khen thưởng và đầu tư 01 công trình tại xã điểm Tân Thông Hội, đào tạo nghề).
– Vốn ngân sách Thành phố: 15.929 tỷ 740 triệu đồng tỷ lệ 19,91%;
+ Vốn NTM: 11.151 tỷ 275 triệu đồng, tỷ lệ 13,94%;
+ Vốn lồng ghép: 4.778 tỷ 466 triệu đồng, tỷ lệ 5,97%;
– Vốn huy động từ cộng đồng: 64.004 tỷ 881 triệu đồng, tỷ lệ 80,01%;
+ Vốn dân: 3.401 tỷ 163 triệu đồng, tỷ lệ 4,25%;
+ Vốn tín dụng : 59.083 tỷ 222 triệu đồng, tỷ lệ 73,86%;
+ Vốn doanh nghiệp: 1.520 tỷ 496 triệu đồng, tỷ lệ 1,90%.
5. Kết quả xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản trong thực hiện Chương trình: Từ khi thực hiện Chương trình đến nay, Thành phố không có nợ đọng xây dựng cơ bản.
II. ĐÁNH GIÁ CHUNG
Mặt được
Qua 5 năm thực hiện Chương trình, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền từ Thành phố đến cơ sở, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; sự tham gia chủ động của người dân trong thực hiện Chương trình, bộ mặt nông thôn ngoại thành thay đổi và đã đạt được những kết quả khá tích cực, đạt được kết quả nổi bật sau:
1.1. Khoảng cách chênh lệch giữa thu nhập nông thôn và thành thị dần thu hẹp: Năm 2019 thu nhập của người dân vùng nông thôn 63,096 triệu đồng/người/năm tăng 58,85% so với năm 2015 và tăng 172,32% so với năm 2010. Khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng thu hẹp qua các năm: năm 2008, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn Thành phố bằng 55,5% so với thành thị; năm 2010 là 66,5%, năm 2016 là 71,9%, năm 2019 là 72,57%.
1.2. Thành phố không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo Quốc gia, chuẩn nghèo Thành phố được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo được kéo giảm: Hiện nay, hộ nghèo của 56 xã còn có 445 hộ nghèo có thu nhập bình quân từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống, chiếm tỷ lệ 0,1%/tổng hộ dân 56 xã.
1.3. Năng suất lao động khu vực nông thôn được cải thiện: Năng suất lao động năm 2008 đạt 29,4 triệu đồng/người, năm 2015 đạt 102,6 triệu đồng/người, năm 2019 đạt 139,6 triệu đồng/người. Tốc độ tăng năng suất lao động năm 2019 so với năm 2008 đạt 374,7%.
1.4. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp, số hộ nông lâm ngư nghiệp giảm: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân giảm khoảng 900ha/năm, số hộ nông lâm ngư nghiệp bình quân giảm 6,38%/năm. Tuy nhiên, nhờ ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, giống cây con chất lượng cao, chuyển dịch sang các loại cây trồng vật nuôi có giá trị, hiệu quả kinh tế cao, chính sách hỗ trợ lãi vay đầu tư sản xuất nông nghiệp góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp thành phố, giai đoạn 2016 – 2019: GRDP bình quân tăng 5,8%/năm, giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp năm 2019 đạt 21.160,9 tỷ đồng, tăng 6,19% (Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần X tăng 5,8% – 6%). Giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha đất canh tác/năm tăng đều qua các năm, từ 158,5 triệu đồng/ha năm 2010, đạt 550 triệu đồng/ha/năm 2019 (cao nhất cả nước, gấp hơn 05 lần bình quân cả nước, theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
1.5. Phong trào “Thành phố Chung sức xây dựng nông thôn mới” được cả hệ thống chính trị, cộng đồng hưởng ứng thực hiện với nhiều hoạt động thiết thực: đã huy động được 33.848 hộ dân hiến 3.169.978 m2 đất để xây dựng mở rộng đường giao thông nông thôn, ước giá trị trên 2.319 tỷ 940 triệu đồng; Huy động cộng đồng cùng chung sức xây dựng 2.290 tuyến hẻm, tổng chiều dài 339,1 km với tổng kinh phí 901 tỷ 778 triệu đồng; hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, xây dựng đường giao thông nông thôn,… với tổng kinh phí hỗ trợ là 457 tỷ 528 triệu đồng.
1.6. Kết nối tiêu thụ nông sản; kết nối liên kết sản xuất giữa “Hộ nông dân – Hợp tác xã – Doanh nghiệp” được tập trung thực hiện: bình quân có 6.770 tấn rau củ quả/năm, 547 tấn thủy sản/năm được sản xuất theo chuỗi liên kết “Hộ nông dân – Hợp tác xã – Doanh nghiệp”; 587 phiên chợ nông sản an toàn được tổ chức, với 11.056 đơn vị tham gia, kết nối tiêu thụ nông sản qua 200 hợp đồng, với giá trị 22,5 tỷ đồng/tháng.
1.7. Chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đô thị được đông đảo người dân tham gia thực hiện có hiệu quả:
Lũy tiến từ năm 2011 đến nay: thành phố đã phê duyệt 24.528 lượt tổ chức, hộ dân, cá nhân vay vốn có hỗ trợ lãi vay để phát triển sản xuất nông nghiệp, tổng vốn đầu tư 13.630,444 tỷ đồng, tổng vốn vay 8.266,568 tỷ đồng, bình quân vốn đầu tư/phương án là 556 triệu đồng/phương án. Tổng kinh phí giải ngân hỗ trợ lãi vay từ ngân sách đối với các phương án được duyệt trên địa bàn thành phố là 673,525 tỷ đồng, cho thấy với 01 đồng vốn ngân sách hỗ trợ lãi vay, sẽ huy động được 20 đồng vốn xã hội, trong đó huy động từ tổ chức tín dụng là 12 đồng, huy động trong dân là 8 đồng.
1.8.6. Tập trung phát triển 6 sản phẩm nông nghiệp chủ lực của thành phố: Mặc dù ảnh hưởng của dịch Covid-19, có một số sản phẩm vẫn tăng. Như: Rau: Sản lượng đạt 203.462 tấn, tăng 1,2% so cùng kỳ; Hoa, cây kiểng đạt 2.549 ha, tăng 12,5% so cùng kỳ.
1.9. Hạ tầng phục vụ sản xuất và an sinh xã hội được tập trung: 2.970 công trình hạ tầng kỹ thuật, xã hội được đầu tư, đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương phát triển sản xuất, dạy – học, khám chữa bệnh, vui chơi giải trí của người dân nông thôn.
– Công tác chỉ đạo điều hành, kiểm tra, giám sát, xem xét, xử lý những vấn đề phát sinh của một số đơn vị sở, ngành, huyện, xã chưa đạt yêu cầu. Còn tình trạng chậm trễ trong tham gia ý kiến; công tác phối hợp thiếu sự chủ động; tính sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện chưa nhiều. Còn có đơn vị trách nhiệm chưa cao trong tham mưu, đề xuất các cơ chế, chính sách thực hiện nông thôn mới; chưa kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Chương trình. Công tác tuyên truyền, quán triệt, triển khai thực hiện Chương trình, nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả mặc dù có quan tâm thực hiện, nhưng kết quả đạt được chưa đạt yêu cầu; hình thức, nội dung, phương pháp tuyên truyền chưa có sự đa dạng, thiếu phong phú, tác dụng lan tỏa chưa nhiều, có nơi thực hiện mang tính hình thức.
– Phát triển kết cấu hạ tầng của vùng nông thôn Thành phố chưa bắt kịp tốc độ phát triển về kinh tế – xã hội Thành phố. Một số huyện, chất lượng đường giao thông còn yếu, xuống cấp do công tác duy tu bảo dưỡng chưa được quan tâm đúng mức; hệ thống trường học các cấp chưa được quan tâm đầu tư để bổ sung phòng học, trang thiết bị giảng dạy theo yêu cầu mới.
– Ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp chưa được thực hiện rộng rãi. Còn một bộ phận người dân còn trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước; liên kết sản xuất chưa bền vững.
– Môi trường, cảnh quan có chuyển biến tích cực so với giai đoạn 2010 – 2015, nhìn toàn diện vẫn chưa đạt yêu cầu mong muốn (vẫn có khu vực còn rác thải ven đường; chưa xây dựng được nhiều tuyến đường xanh – trồng cây – hoa…).
– Tình hình an ninh, trật tự xã hội tại các xã vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, chưa thực sự bền vững (kiềm chế, kéo giảm tội phạm và tệ nạn xã hội hằng năm, nếu không tập trung, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc luôn có thể phát sinh tăng trong tình hình tăng dân số cơ học…).
VĂn phòng Điều phối nông thôn mới thành phố_Trương Công Thắng
]]>


Ông Phong cho cá cảnh ăn
Bí quyết của ông là xử lý thật kỹ nguồn nước và đào ao chứa nước dự phòng, tránh nước xả thải ô nhiễm của khu công nghiệp xâm nhập vào.
Với mô hình nuôi cá cảnh độc đáo, Sở NN-PTNT TPHCM đang quảng bá hình ảnh và thương hiệu cho sản phẩm của ông. Đồng thời, mô hình sẽ được nhân rộng áp dụng cho 18 hộ nông dân khác, với quy mô 30ha.
Dẫn chúng tôi băng qua những con kênh, bờ ruộng đầy ắp nước, ông Phong cho hay đã gắn bó với nghề nuôi cá cảnh hơn 15 năm. Hiện tại, với 12 ao nuôi cá cảnh (có nhiều loại nổi tiếng như cá cảnh Nhật, cá Koi, cá Nam Dương) trên diện tích khoảng 5ha, gia đình ông thu lời tiền tỷ mỗi năm.
Để nuôi cá cảnh thành công như hôm nay, ông Phong từng chịu nhiều thất bại khi khởi nghiệp. Các con kênh cung cấp nước ở vùng đất Bình Lợi thường xuyên bị nước xả thải khu công nghiệp đổ về. Nhiều hôm dòng nước đen ngòm, bốc mùi hôi thối chảy thẳng vào ao nuôi cá, khiến cả đàn chết trắng.
Không chịu cảnh thất nghiệp, ông Phong suy tính, nếu kiểm soát được nguồn nước từ các con kênh chảy vào thì sẽ nuôi cá được. Nghĩ là làm, ông tìm mua vôi bột, hóa chất xử lý nước phèn, nước đục. Khi cần đổi nước mới cho cá thì dẫn nước vào từ ao dự phòng. Bằng kinh nghiệm “đau đớn” đã trải qua, ông Phong chia sẻ, phải quan sát nguồn nước bằng mắt thường rồi thử nghiệm, xử lý nước bằng hóa chất nhiều lần (do ở vùng này, mỗi tháng chỉ có được 2 lần nước tốt, còn lại thì toàn nước “độc”, nhiễm phèn, nhiễm mặn).
Tuy nhiên, dù ông Phong rất cẩn thận với nguồn nước dùng nuôi cá, nhưng đôi khi bị các khu công nghiệp, nhà máy ở đầu nguồn con kênh xả lén nước thải, cá trong ao của ông cũng bị ngắc ngoải, phải xả ao nuôi lứa cá mới.
Cơ duyên đến với nghề nuôi cá khiến ông Phong dù khó khăn cỡ nào cũng tìm cách gắn bó với nghề. Ngày trước ông nuôi cá thịt bán kiếm lời, đến năm 2002 thì bắt đầu nuôi cá cảnh. Thời điểm ấy, khi sang chơi nhà bạn, ông thấy bạn mình nuôi đàn cá cảnh bơi lượn rất đẹp. Ông mang về vài con nuôi thử, đàn cá dễ nuôi chóng lớn.
Sau nhiều đêm suy nghĩ, ông bàn với vợ sẽ đầu tư nuôi cá cảnh quy mô hơn. Bỏ công đào ao, chọn nguồn giống, thức ăn, ông Phong tận dụng lao động trong gia đình cùng chăm sóc ao cá. Kỹ thuật nuôi cá của ông Phong là theo kiểu truyền thống, tự nhiên.
Tuy nhiên, “Phong cá cảnh” lưu ý, ngoài nguồn nước tốt thì cần chú ý tấm lưới bao quanh để ngăn các loại cá tạp ở ruộng xâm nhập vào ao, tranh ăn với cá cảnh. Chế độ ăn uống cho cá cảnh phải điều độ, đúng giờ, việc theo dõi thời tiết cũng rất quan trọng. Hiện ao nuôi cá cảnh của ông Phong đạt sản lượng tiêu thụ 500kg – 600kg/tháng, giá bán 120.000 – 150.000 đồng/kg, thu nhập bình quân 60 – 150 triệu đồng/tháng. Hướng tới, ông Phong sẽ đưa cá cảnh giới thiệu tại các hội chợ triển lãm, siêu thị, để phát triển đầu ra cho sản phẩm.
Báo SGGP _ NHẬT LỆ, ngày 4/8/2017
]]>